OPLogistics - Dịch vụ hải quan Đồng nai - Xuất nhập khẩu Đồng nai

Hướng dẫn tóm tắt về VNACCS

I. Thuật ngữ về VNACCS/VCIS 
- VNACCS là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Vietnam Automated Cargo Clearance System”, là hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Hải quan Việt Nam. 
- VCIS là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Vietnam Customs Intelligent System”, là hệ thống thông tin tình báo hải quan phục vụ cho công tác quản lý rủi ro và giám sát nghiệp vụ của hải quan Việt Nam. 
- Doanh nghiệp chỉ tương tác với hệ thống VNACCS. Cơ quan Hải quan sẽ tương tác với cả 02 hệ thống VNACCS và VCIS. 
Hệ thống VNACCS/VCIS có nhiều điểm mới và thay đổi so với hệ thống thông quan điện tử hiện đang áp dụng như: 
+ Chức năng tính thuế tự động được hoàn thiện; 
+ Rút ngắn thời gian làm thủ tục bằng cơ chế phân luồng tự động do hệ thống thông quan điện tử được áp dụng ở nhiều khâu (quản lý hàng đi/đến tại cảng, chỉ tiêu nhập dữ liệu ở VNACCS/VCIS được tích hợp nhiều hơn các tiêu chí trên vận đơn, bản lược khai vào chỉ tiêu khai báo trên tờ khai); 
+ Tăng cường kết nối giữa các Bộ, ngành thông qua cơ chế một cửa quốc gia (NSW); 
+ Lấy thông tin của dữ liệu đã đăng ký để khai báo xuất nhập khẩu; 
+ Thực hiện đăng ký khai báo trước; 
+ Quản lý hàng tạm nhập tái xuất; 
+ Quản lý danh mục hàng nhập khẩu miễn thuế ... 
 II. Quy trình thủ tục hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu 
1. Khai thông tin nhập khẩu – khai báo trước (Nghiệp vụ IDA-nhập khẩu/ EDA-xuất khẩu). 
- Người khai hải quan khai các thông tin nhập khẩu bằng nghiệp vụ IDA trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu đến hệ thống VNACCS. 
- Hệ thống sẽ tự động cấp số và phản hồi lại cho người khai hải quan tại màn hình thông tin đăng ký tờ khai – IDC (chưa phân luồng). 
- Khi hệ thống cấp số thì bản khai thông tin nhập khẩu IDA được lưu trên hệ thống VNACCS trong thời hạn 7 ngày. Quá thời hạn này mà doanh nghiệp không đăng ký tờ khai (khai báo chính thức), tờ khai sẽ được hệ thống tự động huỷ. 
- Khi khai báo trước, doanh nghiệp có thể kết nối với các thông tin liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa do các Công ty logictis (hãng tàu, đại lý vận tải, công ty giao nhận) đã khai theo nghiệp vụ khai báo Manifest và vận đơn đường biển/ đường hàng không hoặc các thông tin liên quan đến hoá đơn do chính doanh nghiệp khai theo nghiệp vụ khai hoá đơn thương mại trước đó, đến hệ thống VNACCS (thông qua nghiệp vụ IDB). 
- Từ khi khai báo thông tin đến khi đăng ký tờ khai, doanh nghiệp có thể xem lại thông tin đã khai báo, nếu phát hiện sai sót thì được khai báo sửa đổi, bổ sung tới n lần. 
2. Đăng ký tờ khai nhập khẩu - khai báo chính thức (Nghiệp vụ IDC-nhập khẩu/ EDC-xuất khẩu) 
- Khi nhận được màn hình thông tin đăng ký tờ khai (IDC/EDC) do hệ thống phản hồi, người khai hải quan kiểm tra các thông tin đã khai báo, các thông tin do hệ thống tự động xuất ra, tính toán. Nếu khẳng định các thông tin là chính xác, thì ấn nút "gửi" tại màn hình này để đăng ký tờ khai nhập khẩu đến hệ thống (khai chính thức). Trường hợp người khai hải quan không khai ngay, mà sau đó mới khai, thì khi khai chính thức chọn IDC từ menu của hệ thống, nhập chỉ tiêu thông tin: số tờ khai, ấn nút “gửi” tại màn hình này thì hoàn tất việc đăng ký tờ khai đến hệ thống. 
- Trường hợp sau khi kiểm tra, người khai hải quan phát hiện có những thông tin khai báo không chính xác, cần sửa đổi thì phải sử dụng nghiệp vụ IDB gọi lại màn hình khai thông tin nhập khẩu (IDA) để sửa các thông tin cần thiết và thực hiện các công việc như đã hướng dẫn ở trên. 
3. Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai 
Trước khi cho phép đăng ký tờ khai, hệ thống sẽ tự động kiểm tra Danh sách doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (doanh nghiệp có nợ quá hạn quá 90 ngày, doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, giải thể, phá sản…). Nếu doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên thì không được đăng ký tờ khai và hệ thống sẽ phản hồi lại cho người khai hải quan biết. 
 4. Phân luồng, kiểm tra, thông quan 
Khi tờ khai đã được đăng ký, hệ thống tự động phân luồng, gồm 3 luồng xanh, vàng, đỏ. 
4.1. Đối với các tờ khai luồng xanh 
a) Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan (trong thời gian dự kiến 03 giây) và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”. "Thông báo nộp phí, lệ phí hải quan" 
b) Trường hợp số thuế phải nộp khác 0: 
• Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “Chứng từ ghi số thuế phải thu”, "Thông báo nộp phí, lệ phí hải quan" và “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi. 
• Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan....): Hệ thống xuất ra cho người khai “Chứng từ ghi số thuế phải thu”, "Thông báo nộp phí, lệ phí hải quan". Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế, phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”. 
c) Cuối ngày hệ thống VNACCS tập hợp toàn bộ tờ khai luồng xanh đã được thông quan chuyển sang hệ thống VCIS. 
4.2. Đối với các tờ khai luồng vàng, luồng đỏ 
- Hệ thống chuyển dữ liệu tờ khai luồng vàng, luồng đỏ online từ VNACCS sang VCIS. 
a) Cơ quan hải quan 
a.1. Thực hiện kiểm tra, xử lý tờ khai trên màn hình của hệ thống VCIS: 
- Lãnh đạo: Ghi nhận các ý kiến chỉ đạo công chức được phân công về việc kiểm tra, xử lý đối với tờ khai vào ô tương ứng trên “Màn hình kiểm tra tờ khai”; 
- Công chức được phân công xử lý tờ khai: Ghi nhận các ý kiến đề xuất, các nội dung cần xin ý kiến lãnh đạo, kết quả kiểm tra, xử lý tờ khai vào ô tương ứng trên “Màn hình kiểm tra tờ khai” 
- Nếu Lãnh đạo, công chức không ghi nhận các nội dung trên, hệ thống không cho phép thực hiện nghiệp vụ CEA. 
a.2. Sử dụng nghiệp vụ CKO để 
- Thông báo cho người khai hải quan về địa điểm, hình thức, mức độ kiểm tra thực tế hàng hoá (đối với hàng hoá thuộc luồng đỏ); 
- Chuyển luồng từ luồng đỏ sang luồng vàng, hoặc từ luồng vàng sang luồng đỏ (theo quy định của quy trình nghiệp vụ liên quan). 
a.3. Sử dụng nghiệp vụ CEA để: 
- Nhập hoàn thành kiểm tra hồ sơ đối với luồng vàng; 
- Nhập hoàn thành kiểm tra hồ sơ và thực tế hàng hoá đối với luồng đỏ. 
a.4. Sử dụng nghiệp vụ IDA01 để: Nhập nội dung hướng dẫn/yêu cầu các thủ  tục, sửa đổi nội dung khai báo, ấn định thuế và gửi cho người khai hải quan để thực hiện. 
b) Người khai hải quan: 
- Nhận phản hồi của hệ thống về kết quả phân luồng, địa điểm, hình thức, mức độ kiểm tra thực tế hàng hoá;  
- Nộp hồ sơ giấy để cơ quan hải quan kiểm tra chi tiết hồ sơ; chuẩn bị các điều kiện để kiểm  thực tế hàng hoá; 
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí (nếu có). 
c) Hệ thống: 
(1) Xuất ra cho người khai “Tờ khai hải quan” (có nêu rõ kết quả phân luồng tại chỉ tiêu: Mã phân loại kiểm tra) 
(2) Xuất ra Thông báo yêu cầu kiểm tra thực tế hàng hóa đối với hàng hóa được phân vào luồng đỏ hoặc khi cơ quan hải quan sử dụng nghiệp vụ CKO để chuyển luồng. 
(3) Ngay sau khi cơ quan hải quan thực hiện xong nghiệp vụ CEA hệ thống tự động thực hiện các công việc sau: 
- Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa”, "Thông báo nộp phí, lệ phí hải quan"
- Trường hợp số thuế phải nộp khác 0: 
• Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “Chứng từ ghi số thuế phải thu” và “Quyết định thông quan hàng hóa”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi. 
• Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan....): Hệ thống xuất ra cho người khai “Chứng từ ghi số thuế phải thu”. Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”. 
5. Khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan 
(1) Hệ thống cho phép khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan từ sau khi đăng ký tờ khai đến trước khi thông quan hàng hoá. Để thực hiện khai bổ sung trong thông quan, người khai hải quan sử dụng nghiệp vụ IDD gọi ra màn hình khai sửa thông tin khai báo nhập khẩu (IDA01). 
(2) Khi đã khai báo xong tại nghiệp vụ IDA01, người khai hải quan gửi đến hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ cấp số cho tờ khai sửa đổi và phản hồi lại các thông tin tờ khai sửa đổi tại màn hình Thông tin đăng ký tờ khai nhập khẩu sửa đổi IDE. Người khai kiểm tra thông tin tại màn hình IDE do hệ thống phản hồi, nếu đúng, thì ấn nút "gửi" tại màn hình này để đăng ký tờ khai nhập khẩu sửa đổi, bổ sung đến hệ thống. 
Trường hợp người khai hải quan không sửa ngay, mà sau đó mới sửa, thì khi sửa chọn IDE từ menu của hệ thống, nhập 02 chỉ tiêu thông tin: số tờ khai và phân loại xuất báo cáo sửa đổi (Nhập "P" trường hợp cần xuất ra Bản xác nhận sửa đổi tờ khai nhập khẩu), ấn nút “gửi” tại màn hình này thì hoàn tất việc đăng ký tờ khai sửa đổi, bổ sung. 
(3) Số tờ khai sửa đổi là kí tự cuối cùng của ô số tờ khai, số lần khai báo sửa đổi, bổ sung trong thông quan tối đa là 9 lần tương ứng với ký tự cuối cùng của số tờ khai từ 1 đến 9; trường hợp không khai bổ sung trong thông quan thì ký tự cuối cùng của số tờ khai là 0. 
(4) Khi người khai hải quan khai sửa đổi, bổ sung tờ khai, thì tờ khai sửa đổi, bổ sung chỉ có thể được phân luồng vàng hoặc luồng đỏ (không phân luồng xanh). 
6. Những điểm cần lưu ý 
(1) Mỗi tờ khai được khai tối đa 50 mặt hàng, trường hợp một lô hàng có trên 50 mặt hàng, người khai hải quan sẽ phải thực hiện khai báo trên nhiều tờ khai, các tờ khai của cùng một lô hàng được liên kết với nhau dựa trên số nhánh của tờ khai. 
(2) Trị giá tính thuế: 
- Khai báo trị giá: Ghép các chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp 1 vào tờ khai nhập khẩu; Đối các phương pháp khác, chỉ ghép một số chỉ tiêu kết quả vào tờ khai nhập khẩu, việc tính toán cụ thể trị giá theo từng phương pháp phải thực hiện trên tờ khai trị giá riêng. 
- Tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch, người khai hải quan khai báo Tổng trị giá hoá đơn, tổng hệ số phân bổ trị giá, trị giá hoá đơn của từng dòng hàng, các khoản điều chỉnh, hệ số phân bổ các khoản điều chỉnh, trên cơ sở đó, hệ thống sẽ tự động  phân bổ các khoản điều chỉnh và tự động tính trị giá tính thuế cho từng dòng hàng. 
- Không tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch nhưng ngoài I và F còn có trên 5 khoản điều chỉnh khác hoặc việc phân bổ các khoản điều chỉnh không theo tỷ lệ trị giá thì hệ thống không tự động phân bổ, tính toán trị giá tính thuế; Đối với các trường hợp này, người khai hải quan khai báo, tính toán trị giá tính thuế của từng dòng hàng tại tờ khai trị giá riêng, sau đó điền kết quả vào ô “trị giá tính thuế” của từng dòng hàng. 
(3) Tỷ giá tính thuế: Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ áp dụng tỷ giá tại ngày thực hiện nghiệp vụ này để tự động tính thuế: 
- Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA và đăng ký tờ khai IDC trong cùng một ngày hoặc trong 02 ngày có tỷ giá giống nhau thì hệ thống tự động giữ nguyên tỷ giá tính thuế; 
- Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai  IDC (được tính là thời điểm người khai hải quan ấn nút “Gửi” tại màn hình IDC) tại ngày có tỷ giá khác với tỷ giá tại ngày khai thông tin nhập khẩu IDA thì hệ thống sẽ báo lỗi. Khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại - thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn hệ thống sẽ tự động cập nhật lại tỷ giá theo ngày đăng ký tờ khai. 
(4) Thuế suất: 
- Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ lấy thuế suất tại ngày dự kiến khai báo IDC để tự động điền vào ô thuế suất. 
- Trường hợp thuế suất tại ngày IDC dự kiến khác thuế suất tại ngày IDC, thì khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai IDC hệ thống sẽ báo lỗi, khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại - thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn, hệ thống tự động cập nhật lại thuế suất theo ngày đăng ký tờ khai IDC. 
- Trường hợp người khai hải quan nhập mức thuế suất thủ công thì hệ thống xuất ra chữ “M” bên cạnh ô thuế suất. 
(5) Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn/giảm/không chịu thuế: 
- Việc xác định hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK không căn cứ vào Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế, mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan. 
- Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế. 
- Nhập mã miễn/giảm/không chịu thuế vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA). 
- Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT trên VNACCS (TEA) thì phải nhập đủ cả mã miễn thuế và số DMMT, số thứ tự dòng hàng trong DMMT đã đăng ký trên VNACCS. 
- Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế Nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT nhưng đăng ký thủ công ngoài VNACCS thì phải nhập mã miễn thuế và ghi số DMMT vào phần ghi chú. 
(6) Trường hợp hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng: 
- Việc xác định hàng hóa, thuế suất giá trị gia tăng không căn cứ vào Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng; mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan. 
- Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa, thuế suất cụ thể theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan, mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng. 
- Nhập mã thuế suất thuế giá trị gia tăng vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA). 
(7) Trường hợp doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (do có nợ quá hạn quá 90 ngày hoặc Doanh nghiệp giải thể, phá sản, tạm ngừng kinh doanh,…), hệ thống tự động từ chối cấp số tờ khai và báo lỗi cho phía người khai lý do từ chối tiếp nhận khai báo. Tuy nhiên, nếu hàng nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không chịu thuế hoặc thuế suất bằng 0, hệ thống vẫn chấp nhận đăng ký tờ khai dù doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên. 
(8) Trường hợp đăng ký bảo lãnh riêng trước khi cấp số tờ khai (bảo lãnh theo số vận đơn/hóa đơn) thì số vận đơn hoặc số hóa đơn đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số vận đơn/số hóa đơn người khai khai báo trên màn hình nhập liệu. 
Nếu đăng ký bảo lãnh riêng sau khi hệ thống cấp số tờ khai thì số tờ khai đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số tờ khai hệ thống đã cấp. 
(9) Trường hợp cùng một mặt hàng nhưng các sắc thuế có thời hạn nộp thuế khác nhau hệ thống sẽ tự động xuất ra các chứng từ ghi số thuế phải thu tương ứng với từng thời hạn nộp thuế. Trường hợp người khai làm thủ tục nhập khẩu nhiều mặt hàng nhưng các mặt hàng có thời hạn nộp thuế khác nhau, người khai sẽ phải khai trên các tờ khai khác nhau tương ứng với từng thời hạn nộp thuế (ví dụ: người khai làm thủ tục nhập khẩu mặt hàng gỗ và dầu thô thì phải khai trên 02 tờ khai khác nhau tương ứng với từng thời hạn nộp thuế: mặt hàng gỗ có thời hạn nộp thuế nhập khẩu là 30 ngày; mặt hàng dầu thô có thời hạn nộp thuế nhập khẩu là 35 ngày). 
 7. Vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan 
Đối tượng phải khai báo để cơ quan hải quan cấp phép vận chuyển là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các loại hàng hóa khác đang chịu sự giám sát hải quan được vận chuyển giữa hai địa điểm lưu giữ hàng hóa. 
Có 02 hình thức khai: khai tờ khai vận chuyển riêng và khai tờ khai kết hợp nhập khẩu/xuất khẩu và vận chuyển. 
7.1. Khai tờ khai vận chuyển riêng 
i. Hàng hóa quá cảnh. 
ii. Hàng hóa nhập khẩu được vận chuyển từ cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế đến các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá khác theo quy định của pháp luật để làm thủ tục thông quan hàng hóa. 
iii. Hàng hóa nhập khẩu chưa làm thủ tục thông quan hàng hóa được vận chuyển giữa các cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế và bưu điện quốc tế. 
iv. Hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục thông quan hàng hóa được vận chuyển từ địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, các địa điểm kiểm tra hàng hoá khác theo quy định của pháp luật đến cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế để xuất khẩu. 
v. Hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục thông quan hàng hóa được vận chuyển giữa các cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế và bưu điện quốc tế. 
vi. Hàng hóa vận chuyển giữa các khu chế xuất, kho ngoại quan, khu vực ưu đãi hải quan. 
7.2. Khai tờ khai kết hợp nhập khẩu/xuất khẩu và vận chuyển (phân luồng theo tờ khai thông quan hàng hóa) 
Hàng hóa làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu đồng thời với vận chuyển thì được áp dụng thủ tục khai báo kết hợp, không phải làm thủ tục vận chuyển hàng hóa. 
7.3. Đăng ký thông tin khởi hành và đăng ký thông báo đích đến 
Đối với cả 02 trường hợp khai báo trên, trước khi vận chuyển, người khai hải quan (đối với vận chuyển kết hợp) hoặc công ty vận chuyển (đối với vận chuyển thuần tuý) đăng ký thông tin khởi hành việc vận chuyển hàng hóa (Nghiệp vụ BOA). 
Khi hàng đến nơi, người khai hải quan hoặc công ty vận chuyển phải đăng ký thông báo đến đích việc vận chuyển hàng hóa (Nghiệp vụ BIA). 
7.4. Các nội dung có liên quan đến vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan 
- Quy định rõ trách nhiệm của người chuyên chở, những bên có liên quan tại địa điểm đi và địa điểm đến: cập nhật thông tin, phản hồi chuẩn hóa các chế độ quản lý. 
- Về nguyên tắc kiểm tra/giám sát: doanh nghiệp vận chuyển tự quản lý; hoặc hải quan kiểm tra rồi giao cho doanh nghiệp vận chuyển tự quản lý; hoặc hải quan kiểm tra, giám sát đến khi hàng đến đích. 
- Các yêu cầu giám sát: khai báo thời gian dự kiến đi, đến của hàng hóa; khai báo xác nhận hàng hóa đã khởi hành, đến đích. 
 8. Một số chức năng khác của Hệ thống VNACCS 
- Mở rộng các thủ tục, như thủ tục đăng ký danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập – tái xuất 
- Tăng cường kết nối với các Bộ, ngành khác bằng cách áp dụng cơ chế một cửa (Single Window) 
- Tiếp nhận và xử lý phân luồng tự động thông tin khai báo của doanh nghiệp (phân luồng tự động). Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng chữ kí điện tử 
- Thay đổi căn bản việc quản lý, giám sát hải quan đối với một số loại hình theo hướng tăng cường trách nhiệm của các doanh nghiệp 
          Tóm lại: so với việc áp dụng thủ tục hải quan theo phương thức truyền thống và thủ tục hải quan điện tử (E-Customs) thì việc áp dụng VNACCS trong vận chuyển (chuyển tiếp) hàng hóa từ cửa khẩu đến địa điểm kiểm tra tập trung hàng hóa và ngược lại mang lại một số điểm mới, thay đổi đáng kể so với thủ tục hải quan theo phương thức truyền thống và thủ tục hải quan điện tử, cụ thể: 
          - Mở rộng các nghiệp vụ như quản lý hàng đến/đi tại cảng, tại các địa điểm kiểm tra của hải quan. 
          - Người sử dụng có thể sử dụng thông tin trên manifest, hóa đơn đã được đăng ký trên VNACCS trước khi khai báo xuất/nhập khẩu để khai báo vận chuyển. 
          - Có thể thực hiện nghiệp vụ đăng kí trước khi khai báo xuất/nhập khẩu. (khai báo tạm) 
          - Bằng cách sử dụng nghiệp vụ trong VNACCS, có thể liên kết với các Bộ, Ngành khác, do đó sẽ rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa.

Nguồn Tổng cục Hải quan

MyLiveChat

TRACKING